*

    THÀNH VIÊN VIOLET

    THỜI TIẾT- TỶ GIÁ

    TÀI NGUYÊN CỦA TÔI

    Hỗ trợ trực tuyến

    • (Dương Văn Hùng)

    KHÁCH ĐẾN THĂM TRANG

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    BÁO MỚI .COM

    *Chào mừng quý Thầy Cô đến thăm Website: duongvanhung1953.violet.vn
    Gốc > ĐẠO THẦY TRÒ >

    Nhà văn. PGS.TS Lê Tiến Dũng: “Dạy văn là cùng chia sẻvới những người học trò về cái hay, cái đẹp trongvăn chương”

    Nhà văn. PGS.TS Lê Tiến Dũng: “Dạy văn là cùng chia sẻ với những người học trò về cái hay, cái đẹp trong văn chương”pgstsdung4

     PGS.TS Lê Tiến Dũng Nhà giáo, tiến sĩ Lê Tiến Dũng vừa được nhà nước phong hàm Phó Giáo sư. Ông là người con của đất Quảng Bình, giảng dạy trung học, đại học và sau đại học với môn Thi pháp học và Lý luận phê bình văn học. Bằng giọng nói truyền cảm cộng với trí nhớ tốt đọc thuộc lòng cả truyện ngắn đến từng dấu chấm, dấu phẩy khiến hàng ngàn học trò thán phục nhất là Chí Phèo của Nam Cao. Tuy nhiên, trải qua ba lần bị tai biến, giờ đây giọng nói đã không tròn vành nhưng tâm huyết vối nghề giáo vẫn không nguôi ngoai trong ông. Giảng dạy và nghiên cứu văn học giúp ông viết nhiều công trình, đặc biệt là về Xuân Diệu. Nhân ông vừa ra mắt cuốn sách mới “Một lòng với văn nhân” (NXB Thanh Niên, 2007), chúng tôi có cuộc trao đổi cùng ông những vấn đề thẳng thắn về nền lý luận phê bình của nước ta hiện nay. PV: Thưa nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học Lê Tiến Dũng, ông có nhận định gì về nền phê bình văn học ở nước ta trong giai đoạn hiện nay? PGS.TS Lê Tiến Dũng: Phê bình văn nghệ là một khoa học, phê bình văn nghệ cũng là một nghệ thuật. Nếu nhà phê bình chỉ biết cầm roi không thôi thì chính mình đã làm nghèo nàn và đơn giản hóa một công việc đầy tinh tế và nghệ thuật. Vấn đề tôi muốn đặt ra ở đây là : nhiệm vụ chủ yếu của nhà phê bình văn nghệ không phải và không nên là “cơ chế cầm roi”. Dẫu có lúc, có khi trong phê bình phải ra roi, song dù sao đi nữa đó cũng không phải là công việc chính yếu của phê bình văn nghệ. Sáng tạo văn học nghệ thuật là sáng tạo ra cái đẹp, sáng tạo ra những giá trị thẩm mỹ. Phê bình văn nghệ là phê bình cái đẹp, tức là ở đây phải chỉ ra được cái đẹp và phân tích những khía cạnh chưa hoàn thiện. - Nhiều hội nghị lý luận phê bình văn học gần đây, ông có theo dõi và nhận xét gì? - Các hội nghị lý luận văn học gần đây , theo tôi vẫn nói theo “giọng cũ”. Nói theo giọng cũ thành ra vấn đề “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. Tôi mà phát biểu thì chắc cũng nói theo “giọng cũ” thôi. (Cười). - Phải chăng tình hình lý luận phê bình hiện nay chỉ có “ bình” chứ không có “phê” ? - Không phải hoàn toàn như vậy. Nói phê mà chỉ có “luận chiến” thì không đúng mà nói phê bình văn học chỉ có “bình” thì không phải. Năm 1948, nhân bàn đến phê bình luận chiến, trong Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam đồng chí Trường Chinh có nêu lên rằng : "Không có phê bình, không có luận chiến phong trào văn nghệ nước ta êm đềm quá, trầm mặc quá. Nó khác nào con ngựa đi bước một, rũ cổ xuống đất, thiếu một cái roi phê bình quất cho nó lồng lên”. Đây là một ý kiến nhằm nhấn mạnh một phương diện của phê bình văn nghệ. Nhưng từ ý kiến này đã không ít người có lúc, có khi xem đó là toàn bộ mục đích và nhiệm vụ mà phê bình văn nghệ hướng tới. Thế là trong một thời gian dài, công việc của một số nhà phê bình hoặc là tự mình, hoặc là do đưa đẩy đã trở thành “cái roi ngựa” đối với sáng tác. Cái roi ấy cũng đã có khi làm cho con ngựa “lồng” lên, nhưng cũng có khi làm cho con ngựa “quỵ” xuống. Cái roi ấy cũng đã có lúc vung lên vun vút, nhất là những khi cho rằng trong sáng tác có sai lầm về tư tưởng, đường lối. Chính ở cái tư thế cầm roi này mà nhiều nhà phê bình đã được mệnh danh là “người gác cổng”, “người thổi còi” trong văn nghệ. Công việc của những người phê bình dạng này thường là chú mục vào những biểu hiện sai lầm và phê phán những sai lầm đó trong sáng tác văn nghệ. Một công việc phê bình như vậy rất gần với chính trị. Cho nên trong một tập sách do NXB Sự thật ấn hành có người đã gọi đây là phê bình “nặng tính chất tuyên huấn”. Quan hệ giữa người phê bình với người sáng tác đôi khi cũng không được mặn nồng cho lắm. Nhà phê bình đã có lúc, có khi không nhận được mấy thiện cảm từ phía người sáng tác. Kể ra cũng phải thôi, có con ngựa nào lại thiện cảm với người cầm roi lúc nào cũng nhăm nhăm chực quất. Lại nữa, với vai trò cầm roi này, người phê bình tự nhiên được đặt vào cái thế “cầm cương”, “hướng dẫn”, “chỉ đạo” đối với người sáng tác. Trong khi đó trong quan niệm của không ít người sáng tác lại xem người phê bình là “kẻ ăn theo”, không có mình thì không có phê bình ! Văn nhân tương khinh. Thành thử sự không ăn ý giữa sáng tác và phê bình dường như càng được tăng lên. Thậm chí nghe nói có nhà văn trước khi mất còn di chúc lại rằng cấm nhà phê bình nọ kia không được đi đưa đám mình, không được chôn mình cạnh các nhà phê bình v.v... và v.v... Công bằng mà nói sáng tác cũng cần phê bình làm nhiệm vụ của cái roi để quất mạnh vào những yếu kém của nó. Nhưng biến toàn bộ công việc của phê bình văn nghệ thành “phê bình cầm roi” thì thật phiếm diện và sai lầm. Nhà phê bình mà cứ nhăm nhăm cái roi trong tay thì rất dễ thô bạo. Điều này có lẽ không cần phải chứng minh. Nhưng ngay đến nhà sáng tác, nếu có một khi nào đó được cầm roi thì cũng dễ dàng thô bạo như ai chứ không cứ chỉ nhà phê bình. Nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh đã có lần chỉ ra là có nhiều người sáng tác khi “cầm roi” phê bình đồng nghiệp mình, như phê bình Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, phê bình sáng tác của Vũ Trọng Phụng, hay phê bình sáng tác của một vài cây bút trẻ gần đây cũng tỏ ra “khắt khe, thậm chí thô bạo hơn cả những nhà phê bình thô bạo nhất”. Vấn đề tôi muốn đặt ra ở đây là, như đã nói ở trên, nhiệm vụ chủ yếu của nhà phê bình văn nghệ không phải và không nên là “cơ chế cầm roi”. Dẫu có lúc, có khi trong phê bình phải ra roi, song dù sao đi nữa đó cũng không phải là công việc chính yếu của phê bình văn nghệ. Sáng tạo văn học nghệ thuật là sáng tạo ra cái đẹp, sáng tạo ra những giá trị thẩm mỹ. Phê bình văn nghệ là phê bình cái đẹp, tức là ở đây phải chỉ ra được cái đẹp và phân tích những khía cạnh chưa hoàn thiện. Thái độ đối với cái đẹp là trân trọng. Lê Quý Đôn trong Vân đài loại ngữ đã cho chúng ta một lời khuyên rất sâu sắc rằng : “Văn chương là của chung thiên hạ, phân tích thì được chứ không nên chê mắng”. Còn nhà thơ Puskin, người được mệnh danh là “mặt trời của thi ca Nga” cũng nhận xét : “Ở đâu không có tình yêu nghệ thuật thì ở đó không có phê bình”. Chế Lan Viên cũng có lần viết : “Phê bình có thể thấy xa, chỉ vì nó được hứng cảm bởi hồn thơ. Không có thơ trong hồn, anh chỉ có thể thốt lên những câu càu nhàu, chửi rủa chứ đâu có phải phê bình”. Nhà phê bình chỉ chực để chê mắng, để bắt bẻ thì đâu còn kịp thấy cái hay của tác phẩm nữa để phê bình. Cho nên theo tôi, nhiệm vụ đầu tiên của nhà phê bình là phải chỉ ra được cái hay, cái đẹp của sáng tác. Suốt một đời phê bình văn học của mình, Hoài Thanh dường như chỉ đi tìm cái hay, cái đẹp của văn chương để ngợi ca. Cũng có khi ông phê phán, nhưng nếu có phê phán đi nữa, thì cũng là để làm nổi rõ hơn cái hay, cái đẹp. Thi nhân Việt Nam của ông dù trải qua bao phen gió dập sóng dồi vẫn được người đời kính trọng và được xem như lá một tác phẩm phê bình văn học hay nhất của văn học Việt Nam hiện đại có lẽ chính ở chỗ ông đã chỉ ra được cái hay, cái độc đáo của từng nhà thơ trong phong trào Thơ mới. Tôi nghiệm ra rằng những nhà phê bình văn học của ta còn lại được thì hầu hết là những người ở mức độ khác nhau, bằng sự nhạy cảm, bằng kiến văn của mình để chỉ ra được cái hay, cái giỏi của từng tác giả, từng tác phẩm, chứ không phải những người “chê mắng” giỏi. Không phải ngẫu nhiên mà Trương Chính cho rằng người phê bình cũng như là người đệm đàn. Còn Hoàng Ngọc Hiến khi trả lời câu hỏi “Viết phê bình để làm gì ?” đã không ngần ngại cho rằng: “Tôi viết phê bình để làm sáng giá và sang giá những tác phẩm mà tôi tâm đắc”. Ông còn nói thêm : “Không có sự tâm đắc này phê bình văn học hướng về mục đích ngoài văn học”. Để đạt được sự tâm đắc, sự hiểu thấu tác phẩm văn nghệ thì trong quan hệ phê bình, người phê bình phải là người tri âm với sáng tác. Nhà phê bình là bè bạn, là người nói chuyện thông minh với người sáng tác. Ở thế kỷ XIX, nhà phê bình Pháp Xanhtơ Bơrơ (Saint Beuve) đã có lần nhận xét rằng : “Nền phê bình chân chính của Pari được tiến hành bằng những cuộc trò chuyện”. Lịch sử phê bình văn nghệ nhân loại cũng đã để lại không ít những bài phê bình nổi tiếng lại là những lúc thư bạn bè gửi cho nhau. Ở đâu đó có người lo lắng rằng khi phê bình và sáng tác là bè bạn thì dễ trở thành “cánh hẩu” mà thiếu sự khách quan, dễ thể tất cho nhau, dễ đề cao nhau một cách vô cớ. Thực tế đã có nhiều trường hợp như vậy thật. Nhưng đó là cái lỗi và trách nhiệm của những người phê bình và sáng tác cụ thể nào đó, chứ không phải cái lỗi của quan hệ tri âm giữa nhà phê bình và sáng tác. Đã tri âm thì không chỉ biết chỉ ra những cái hay mà còn phải biết vạch ra những cái dở. Nếu nhà phê bình mà không tri âm được với sáng tác thì thật khó mà chỉ ra được cái hay đã đành mà cũng rất khó vạch ra đúng cái dở. Bởi lẽ văn là người, là tiếng nói từ trái tim, không chia sẻ được thì cũng khó mà hiểu thấu. Lưu Hiệp đã viết rất hay trong Văn tâm điêu long rằng: “Người làm văn tình cảm rung động mà phát ra lời, người xem văn phải rẽ văn mà thâm nhập vào tình cảm”. Nếu không có được sự tâm đắc, sự đồng cảm, sự rung động của tri âm, tri kỷ thì thật khó mà xem văn, nói chi nhập được vào hồn văn người khác. Không làm được tri âm với người sáng tác thì người phê bình trở nên thừa. Điều này cắt nghĩa tại sao có nhiều nhà văn không thích phê bình. Trong quan hệ đời thường có thể ghét nhau, không thích nhau, nhưng trong quan hệ phê bình văn nghệ mà không tri âm được thì không phê bình được. Hoài Thanh có lần nói: “Liệu thơ không hợp với mình, không viết được thì tôi không viết. Xin nói rõ thêm: không hợp không nhất thiết là không hay. Thơ hay cũng có thể không hợp”. Công việc của nhà phê bình dĩ nhiên phải vượt lên trên sự bình phẩm thông thường. Nhà phê bình cũng đồng thời là nhà văn, cũng là người sáng tạo, chứ không phải là người “ăn theo”, dù “ăn theo” một cách sang trọng. Một bài phê bình hay cũng là một tác phẩm nghệ thuật. Nó cũng ghi đậm dấu ấn của cá tính sáng tạo. Người ta biết đến Thơ Đường, Thủy Hử là những tuyệt tác, nhưng cũng biết đến những lời bình của Kim Thánh Thán về Thơ Đường, về Thủy Hử là những lời thần diệu. Người đọc đọc phê bình cũng say mê như đọc tác phẩm vậy nếu đây là những lời hay và đúng. Và nhà phê bình về phương diện này cũng được xem như là những nghệ sĩ sáng tạo. Ở ta có nhiều nhà phê bình được gọi là nhà văn dù trong sự nghiệp của họ chẳng có sáng tác nào đáng kể mà chủ yếu là các bài phê bình như trường hợp của Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan... Phê bình cũng là văn học. Đúng như B.Burxốp đã nhận xét: "Chỉ có loại phê bình đồng thời là văn học mới có khả năng hiểu thấu văn học mà trước hết là bản chất cá tính sáng tạo của nhà văn". Vài nét về PGS.TS Lê Tiến Dũng: Sinh ngày 30-3-1957 tại Quảng Bình Năm 1979-1987: Cán bộ giảng dạy trường Đại học Sư phạm Huế Từ năm 1987 đến nay: Cán bộ giảng dạy trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM. Hội viên Hội Nhà văn TP.HCM. Đã có gần 10 tác phẩm. Trong đó có Xuân Diệu, một đời người, một đời thơ; Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu; Cụ Hồ ở giữa lòng dân; Nam Cao, một đời văn… Đoạt giải Ba thi bình văn do tạp chí Kiến thức Ngày nay tổ chức. Cảm tưởng về nghề nghiệp: “Nhà phê bình cũng đúng là nhà văn, cũng phải là người sáng tạo chứ không phải là người “ăn theo”, dù “ăn theo” một cách sang trọng. Một bài phê bình hay cũng là một tác phẩm nghệ thuật. Nó cũng ghi đậm dấu ấn của cá tính sáng tạo”. - Thưa tiến sĩ, thế hệ làm công tác lý luận phê bình hiện nay rất khan hiếm so với trước. Thế hệ trẻ lại càng hiếm hơn. Dường như sự thiếu vắng này là do nghề này thêm thù bớt bạn mà họ né tránh không? - Thực ra người tài thời nào cũng có. Các bạn làm công tác lý luận phê bình hiện nay theo tôi là không hiếm. - Là tiến sĩ giảng dạy Lý luận văn học và Thi pháp học, tiến sĩ nhận thấy sinh viên cũng như nghiên cứu sinh theo ngành này có đam mê nhiều hay không? - Ngành này là một ngành khó, đòi hỏi sinh viên, học viên phải đạt trình độ cao mới có lòng yêu thích được. Luận văn cao học của học viên có khoảng 60 – 70% đề tài có gắn với thi pháp. - Cuốn sách “Một lòng với văn nhân” được ông chia làm ba phần. Phần I, ông dùng hình ảnh nhà phê bình – cái roi ngựa. Phải chăng thời nào phê bình cũng cần có người quất lên mới phát triển? - Cuốn sách, nói như tiến sĩ Nguyễn Khắc Hoá, “trước hết là tấm lòng, là tình yêu của tác giả đối với văn chương và văn nhân”. Tôi đã hình ảnh hoá quan niệm của mình về phê bình văn học, về vai trò, vị trí, chức năng của môn khoa học về văn chương này đối với đời sống văn chương. Tôi nhận ra rằng trong thực tiễn đời sống văn học, “ cái roi” ấy cũng đã có khi làm cho con ngựa “ lồng” lên, nhưng cũng có khi làm cho con ngựa “quỵ” xuống”. Cái roi ấy có vai trò gì trong tay nhà phê bình và trên trang sách. Tôi lí giải: “Nhiệm vụ của nhà phê bình văn nghệ không phải và không nên là “cơ chế cầm roi”. Dẫu có lúc, có khi trong phê bình phải ra roi, song dù sao đi nữa đó cũng không phải là công việc chính yếu của nhà phê bình”. Người phê bình văn học phải ở tư thế cầm roi và phải biết dụng roi như thế nào để không mệnh danh là “người gác cổng”, “người thổi còi”, không “ở trong cái thế “cầm cương”, “hướng dẫn”, “chỉ đạo” đối với người sáng tác nhưng cũng không phải là “kẻ ăn theo”. - “Giờ văn ngồi lớp” phần II là những bài bình giảng văn học trong nhà trường qua kinh nghiệm giảng dạy của ông. Vậy vì sao học sinh ngày nay lại yếu môn văn đến vậy? - Trong khoảng thời gian vừa qua, không ít người đã lên tiếng đánh động về tình trạng vô cảm của thế hệ trẻ bây giờ đối với văn chương. Việc học thuộc lòng những bài văn mẫu, việc đạo văn đã trở nên phổ biến trong nhà trường. Phải chăng người yêu văn đang vắng dần đi ? Phải chăng niềm đam mê văn chương đang lợt nhạt giữa dòng chảy của cuộc sống hiện đại ? Phải chăng thế hệ trẻ bây giờ không còn cảm nhận được cái hay, cái đẹp của những trang văn ? Có lẽ, là người đã mấy mươi năm cùng với viên phấn trắng và chiếc bảng đen ươm hạt mầm văn chương cho bao thế hệ học trò, tôi cũng mang nặng những nỗi băn khoăn ấy. Với tôi, dạy văn là cùng chia sẻ với những người học trò những rung động từ sự cảm nhận về cái hay, cái đẹp trong văn chương, cùng tìm kiếm những niềm tri âm để tri âm với trang sách. Và người học văn phải là người biết đi tìm tiếng nói tri âm ấy, biết học để tự sinh ra tiếng nói tri âm, tiếng nói hội ngộ với văn chương bằng chính trái tim mình. Chính vì vậy, sau tập tiểu luận và phê bình “Nhà phê bình và cái roi ngựa” (tôi lại cho ra đời tập sách mang tên “Giờ văn ngoài lớp”. Đúng như bạn Công Khanh đã viết: “Trong tình hình hiện nay, khi những quyển sách tham khảo như Để học tốt văn hay Những bài văn mẫu …thường là những quyển sách tuyển tập các bài tập làm văn viết sẵn đang được bày bán tràn lan trên thị trường khiến không ít các bậc phụ huynh và học sinh vô cùng phân vân, lúng túng khi chọn mua. “Giờ văn ngoài lớp” lại không chạy theo xu thế “văn mẫu” hiện thời, không đúc sẵn một cái khuôn để học sinh đổ những câu những chữ không phải của mình vào trang giấy trong những giờ học văn trên ghế nhà trường”. - Năm 2007 kỷ niệm 90 năm ngày sinh “Ông hoàng thơ tình” và được biết phần III “Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932-1945” của ông là công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ. Vậy cơ duyên nào ông chọn Xuân Diệu ? - Kỷ niệm Xuân Diệu 90 năm ngày sinh phải là 2006 (sinh năm 1916-NT). Tôi chọn Xuân Diệu vì trước ông là một tài năng thơ. Tôi xin dẫn ra đây ý kiến đánh giá của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh “Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới (1932-1945). Ông đóng vai trò quyết định trong cuộc cách tân hiện đại hóa thơ ca Việt Nam. Do vậy nghiên cứu thơ Xuân Diệu trong giai đoạn sáng tác trước cách tháng Tám rất quan trọng chẳng những đối với bản thân Xuân Diệu mà còn đối với thơ ca hiện đại Việt Nam nói chung. Lâu nay đã có nhiều công trình viết có giá trị về thơ Xuân Diệu, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về tư duy thơ mới mẻ của ông. Chuyên luận của Lê Tiến Dũng đã đặt và giải quyết vấn đề này. Điều đó nói lên ý nghĩa quan trọng và bức thiết của chuyên luận này”. - Là người tham gia công trình nghiên cứu văn học trong nhà trường do Hội Nghiên cứu giảng dạy văn học TP. Hồ Chí Minh và NXB Trẻ ấn hành. Ông có thể cho biết tác động của nó vào đời sống văn học hiện nay? PGS.TS Lê Tiến Dũng cùng học trò trong ngày Nhà giáo Việt Nam (20-11-2007) - Tác động của loại sách nói chung là rất lớn. Có điều hơi tiếc là sách bán không được chạy lắm. - Sau công trình này, tiến sĩ có viết thêm hay không? - Sau công trình này, tôi đã cho xuất bản một chuyên đề cho lớp cử nhân tài năng. Đó là cuốn Nhà văn và phong cách, NXB Đại học Quốc gia, 2007, khoảng hơn 100 trang. Tôi dự định năm tới sẽ xuất bản một cuốn nữa cho học viên cao học và nghiên cứu sinh. - Xin trân trọng cảm ơn phó giáo sư. Theo Công an TPHCM


    Nhắn tin cho tác giả
    Dương Văn Hùng @ 15:39 11/12/2009
    Số lượt xem: 1027
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    CÁC THẾ BẤM CHO ĐÀN GUITAR

    Hat karaoke